Dễ và đơn giản như truy xuất nguồn gốc online
07:30:00 | 30/08/2011Sử dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc (TXNG) của công ty Trace Register (Mỹ),người tiêu dùng cũng như khách hàng mua hàng nông thủy sản có thể dễ dàng kiểm tra thông tin “từ ao nuôi đến bàn ăn” của sản phẩm.
Truy xuất bằng… smartphone
Không như các hệ thống TXNG khác mà người dùng phải mua phần mềm chuyên dụng, hệ thống TXNG của Trace Register là một trang web kết nối thông tin từ các mắt xích trong chuỗi cung ứng “từ ao nuôi đến bàn ăn”. Và khi khách hàng - các mắt xích như: trại giống, trại nuôi thương phẩm, tàu cá, nhà sản xuất thức ăn, hóa chất, phụ gia, nhà chế biến, nhà vận chuyển, nhà NK, nhà phân phối, nhà bán lẻ - đăng kí thông tin về lô hàng của mình lên Trace Register®, họ đã chuẩn bị cho mình một kho dữ liệu on-line sẵn sàng kết nối thông tin thành chuỗi cung ứng.
Trace Register hiện có khoảng 1.000 khách hàng là các công ty thủy sản ở 24 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đó là các nhà cung cấp, các tập đoàn bán lẻ và dịch vụ thực phẩm xuyên quốc gia ở Mỹ và châu Âu như Whole Foods, Wegmans, Price Chopper, Bottom Dollar, Sweetbay, Ralley’s, Hannaford, Food Lion, Harveys,…
Từ trái sang: Các diễn giả Sayo Morita, Ts. Trương Hoàng Minh và Phạm Thị Mận tại hội thảo Xu hướng truy xuất thực phẩm toàn cầu tại Tp. Hồ Chí Minh ngày 28/6/2011
Tại Mỹ, Ủy ban Nghề cá Vùng Vịnh (GSMFC), công ty Trace Register và Tập đoàn Đánh giá Nguồn lợi biển (MRAG) đã bắt đầu thực hiện chương trình TXNG nhằm đảm bảo niềm tin của người tiêu dùng về sản phẩm hải sản đánh bắt từ vịnh Mexico. Trace Register đang nỗ lực kết nối các tài liệu TXNG cho tất cả các sản phẩm trên quy mô toàn cầu.
Đặc biệt, tất cả các nhà máy, trại nuôi và trại giống thủy sản đăng ký áp dụng BAP của ACC đều phải sử dụng hệ thống Trace Register®. Tuy nhiên, ngày càng nhiều công ty chưa áp dụng BAP nhưng vẫn đăng ký sử dụng Trace Register® như hệ thống giúp quản lý các thông tin cần thiết cho các lô hàng xuất để đáp ứng nhu cầu TXNG của nhà NK, người tiêu dùng và nhu cầu quản lý thông tin truy xuất của chính họ. Theo thống kê, số lượng kết nối các tài liệu TXNG qua Trace Register® đã tăng từ 2.634 lô với 11.574 sản phẩm vào năm 2008 lên 162.086 lô với 445.157 sản phẩm vào năm 2010.
Tính năng Smart Trace của Trace Register® cho phép khách hàng nhập mã sản phẩm thông qua dòng điện thoại smartphone để truy xuất thông tin sản phẩm họ mua, đồng thời kết nối với website của họ để xây dựng hệ thống TXNG on-line của mình.
Tại các website này, khách hàng được giới thiệu phương pháp truy xuất và được cung cấp thông tin TXNG đối với sản phẩm của họ. Hơn nữa, chúng còn cung cấp thông tin quảng bá sản phẩm, thông tin sản phẩm, công thức nấu ăn, ngư dân đã nuôi hoặc đánh bắt sản phẩm, hệ thống bán lẻ, bản đồ TXNG sản phẩm,… Đó là những ví dụ điển hình về các nhà bán lẻ hàng đầu thế giới đã sử dụng Trace Register® để thực hiện TXNG nhanh nhất và tiện dụng nhất phục vụ cho chính người tiêu dùng.
Trace Register® được thiết kế linh hoạt để có thể áp dụng cho các ngành trồng trọt và chăn nuôi. Hệ thống hiện được tích hợp sẵn 7 ngôn ngữ là tiếng Anh, Trung, Thái, Nhật, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và tiếng Việt. “Chi phí cho hệ thống rất hợp lý. DN không cần trả tiền mua phần mềm mà chỉ phải trả phí thuê bao hằng năm. Chúng tôi có đội ngũ chăm sóc khách hàng và bộ phận kỹ thuật để giúp DN kết nối thông tin đến người mua khách của mình và đảm bảo độ an toàn các thông tin mà DN đã đưa lên Trace Register®” - bà Sayo Morita cho biết.
Dễ dàng và thuận tiện cho DN
Theo TS Trương Hoàng Minh, Đại học Cần Thơ, đối với các DN, việc áp dụng hệ thống TXNG có thể làm tăng chi phí nhưng lợi ích thu được cũng không nhỏ. Hệ thống TXNG có thể phục vụ cùng lúc nhiều mục đích và mang lại nhiều lợi ích. Thứ nhất, DN có thể quản lý tốt chất lượng sản phẩm từ nuôi trồng đến chế biến, vận chuyển và phân phối. Thứ hai, dễ dàng phát hiện và xử lý khi xảy ra sự cố, DN có thể biết ngay sự cố phát sinh ở khâu nào và từ đó có biện pháp giải quyết kịp thời; đồng thời cải tiến hệ thống để phòng tránh sự cố tương tự lặp lại trong tương lai. Thứ ba, đảm bảo thu hồi sản phẩm nhanh chóng, bảo vệ người tiêu dùng. Thứ tư, giảm thiểu tác động của việc thu hồi sản phẩm bằng cách giới hạn phạm vi liên quan. Thứ năm, giúp khách hàng tin tưởng hơn vào chất lượng và VSATTP đối với sản phẩm của DN, do đó nâng cao được uy tín của DN trên thương trường.
Ngoài việc giúp các DN đáp ứng yêu cầu thông tin TXNG, Trace Register® có thể giúp họ quản lý, phân tích và báo cáo thông tin một cách tự động trên hệ thống từ cơ sở dữ liệu tùy theo yêu cầu thực tế của từng công ty. Trace Register® còn hỗ trợ giúp kết nối tài liệu truy xuất từ hệ thống truy xuất nội bộ (TXNB) có tập tin xuất ra với định dạng .xml để giúp người sử dụng giảm thiểu thời gian việc cập nhật thông tin kiểu thủ công.
“Không như nhiều hệ thống độc quyền và tốn kém khác, Trace Register® phù hợp ngay cả với hệ thống TXNB của DN. Họ không cần học phương pháp đánh mã số tài liệu truy xuất cho đến cách tạo nhãn ghi chú đặc biệt trên tài liệu truy xuất. Họ có thể bắt đầu sử dụng Trace Register® ngay từ bây giờ mà không phải lo lắng sẽ mất thời gian, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình” – bà Sayo Morita khẳng định. Trace Register® không thể thay thế hệ thống TXNB của DN và họ cần sử dụng Trace Register® song song với hệ thống TXNB hiện có của mình nhằm giúp kết nối các tài liệu truy xuất thành chuỗi cung ứng.
Hiện nay, hầu hết các công ty chế biến thực phẩm đều có hệ thống TXNB nhưng gặp khó khăn ở việc kết nối các thông tin trong chuỗi cung ứng nhằm tạo sự minh bạch và chính xác về sản phẩm đó từ chính sự cung cấp thông tin truy xuất của các công ty/ đơn vị trong chuỗi. Khi được kết nối qua Trace Register®, thông tin sẽ mang tính khách quan và chính xác hơn. Người mua mong muốn nhìn thấy các thông tin về sản phẩm được kết nối lại với nhau trong tài liệu truy xuất trong đó có các thông tin được cung cấp độc lập bởi các bên có liên quan.
Được thiết kế và phát triển bởi đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm thực tiễn về ngành thủy sản toàn cầu, Trace Register® mang đến cho các nhà sản xuất một cách thức nhằm đáp ứng toàn diện yêu cầu TXNG sản phẩm của chính phủ, các tổ chức chứng nhận, nhà sản xuất, nhà chế biến, nhà phân phối và bán lẻ thực phẩm toàn thế giới. Hệ thống cũng rất linh hoạt trong việc cho phép bạn tạo tất cả các dữ liệu về sản phẩm từ nguồn gốc đến nơi bán ra, bao gồm cả thông tin về bên mua, bên bán, vận chuyển, thông tin về thức ăn, phụ gia, hóa chất xử lý…
Theo bà Phạm Thị Mận, đại diện Trace Register Việt Nam, trên phương diện là hệ thống truy xuất đáp ứng yêu cầu và tiêu chuẩn của chứng nhận BAP, có 4 cấp độ về TXNG tương ứng với các các cơ sở có BAP.
Cấp độ 1 sao là thông tin TXNG chỉ do nhà chế biến cung cấp. Cấp độ 2 sao là tài liệu TXNG được kết nối với thông tin của bên thứ 2 là trại nuôi. Ba sao là tài liệu truy xuất được liên kết thêm với thông tin do bên thứ ba là trại giống cung cấp. Bốn sao là tài liệu truy xuất được liên kết thông tin liên quan đến thức ăn do bên thứ 4 là nhà sản xuất thức ăn cung cấp.
Theo công bố trên website của ACC, ở Việt Nam hiện có 4 công ty đạt đến cấp độ BAP 3 sao đối với sản phẩm tôm nuôi là Minh Phú, BIM, Phương Nam và Sao Ta. Vì vậy các tài liệu truy xuất của họ cũng đã kết nối từ trại giống đến nhà máy và đã đáp ứng các yêu cầu truy xuất trên Trace Register® cho các khách hàng của họ.
Các tài liệu truy xuất của các công ty đạt cấp độ BAP 2 sao là Stapimex, Cadovimex, NhaTrang SeaProduct, Truc An, Utxi. Các công ty còn lại chỉ đạt cấp độ BAP một sao.
Đối với sản phẩm là cá tra, hiện QVD là công ty đầu tiên ở Việt Nam đạt BAP cấp độ 2 sao. Ngoài tôm và cá tra, Trace Register Việt Nam còn hỗ trợ các DN thực hiện TXNG đối với cá ngừ và các sản phẩm thủy sản khác.
“DN không phải mua bất cứ phần cứng hay phần mềm nào cũng như tốn kém chi phí nâng cấp và cài đặt Trace Register®. Công ty sẽ giúp DN ổn định, nâng cấp, cải tiến và hoàn thiện các khâu kỹ thuật để DN tập trung vào công việc kinh doanh của mình” – bà Mận nói thêm. “Trace Register mong muốn mang đến DN một giải pháp cho việc quản lý các thông tin truy xuất cho các lô hàng, và đặc biệt là kết nối các thông tin truy xuất trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhu cầu và khuynh hướng truy xuất hiện nay từ các các nhà NK và người tiêu dùng, giúp thủy sản Việt Nam có thêm sức cạnh tranh trên thị trường thế giới”.
(Theo Vietfish)